TS. Bùi Trinh 1 - TS. Kwang Moon Kim 2 Từ năm 2007 đến nay , các chính sách vĩ mô của Việt Nam thường hướng đến quản lý cầu. Tuy nhiên, ...
TS. Bùi Trinh1 - TS. Kwang Moon Kim2
Từ năm 2007 đến nay, các chính sách vĩ mô của Việt Nam thường hướng đến quản lý cầu. Tuy nhiên, việc quản lý cầu trong một thời gian dài mà không tăng năng suất và hiệu quả đầu tư sẽ dẫn đến những bất ổn vĩ mô và lệch lạc về cấu trúc kinh tế. Nghiên cứu này nhằm phân tích thực trạng về cấu trúc kinh tế của Việt Nam trong những năm qua, bao gồm cấu trúc của quá trình sản xuất và phân phối lại; cấu trúc ngành và liên ngành, cấu trúc về sở hữu, cấu trúc của sự lan tỏa từ cầu cuối cùng đến sản xuất và giá trị gia tăng, cấu trúc của quá trình phân phối lại. Nghiên cứu sử dụng các chỉ số kinh tế vĩ mô trong hệ thống tài khoản quốc gia và bảng cân đối liên ngành của Tổng cục Thống kê Việt Nam và Trung Quốc.
Từ khóa: GDP, giá trị gia tăng, GNI, tiết kiệm.
1. Giới thiệu chung
Trong bài viết này, cấu trúc kinh tế được hiểu là cấu trúc của quá trình tạo thành thu nhập, cấu trúc về phân phối và phân phối lại thu nhập. Như vậy xét về cấu trúc kinh tế, đây là nghiên cứu về luồng chu chuyển sản phẩm và tiền tệ như trong hệ thống các tài khoản quốc gia.
Nền tảng của cấu trúc kinh tế được Giáo sư Wassily Leontief đề xướng và phát triển bằng việc xây dựng các mô hình I/O cho Hoa Kỳ, công bố năm 1941 trong công trình “Cấu trúc của nền kinh tế Hoa Kỳ”, áp dụng bảng I/O 1919 và 1929 của Hoa kỳ để nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc kinh tế trong giai đoạn này. Từ đó đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đều đã thiết lập mô hình I/O của mình. Hơn nữa, mô hình này còn được xem là trung tâm của Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) của Liên hợp quốc, được xuất bản lần đầu vào năm 1953.
Khung đầu vào - đầu ra của W. Leontief đã được áp dụng rộng rãi để nghiên cứu về cấu trúc một nền kinh tế trong một khoảng thời gian cụ thể. Bức tranh kinh tế được thể hiện qua ma trận nhân tử đã được sử dụng để nghiên cứu những thay đổi trong nền kinh tế Hoa Kỳ giai đoạn 1972 - 1996 (Guo và Planting, 2000). Phân tích mối liên kết thông qua ma trận nhân tử cũng được áp dụng trong nghiên cứu về cấu trúc của nền kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn 1987 - 1997 (Guo và Hewing, 2001).
Ngoài ra nghiên cứu này cũng xem xét quá trình phân phối và phân phối lại giữa các khu vực thể chế và khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế; số liệu sử dụng của Tổng cục Thống kê Việt Nam.
2. Một số kết quả nghiên cứu
2.1. Cấu trúc về thành phần kinh tế trong GDP
Tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2015 đạt khoảng 6%, mức tăng trưởng tương đối cao so với các nước trong khu vực. Xét về cấu trúc sở hữu trong GDP, đóng góp vào GDP của Việt Nam cơ bản là từ khu vực cá thể. Trong suốt 10 năm 2005 - 2015, tỷ lệ giá trị gia tăng của khu vực này so với GDP luôn ổn định trên 31%. Trong giai đoạn 2010 - 2015, tỷ trọng khu vực kinh tế cá thể trong GDP giảm được chưa tới 1% (0,74%). Tỷ trọng kinh tế nhà nước cũng chỉ giảm nhẹ từ 29,34% trong năm 2010 xuống 28,69% năm 2015 (giảm khoảng 0,65%). Trong khi đó, khu vực kinh tế tư nhân (doanh nghiệp) tăng chưa được 1%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng khoảng 3%. Cấu trúc về sở hữu cho thấy, nền kinh tế Việt Nam rất manh mún và hầu như không có sự thay đổi đáng kể về cấu trúc. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn không thể phát triển, tỷ trọng giá trị gia tăng của khu vực sở hữu này trong GDP rất thấp (dưới 8%) và không thay đổi trong suốt 10 năm (2005 - 2015). Điều này cho thấy khi số lượng doanh nghiệp trong nước tăng lên hay mất đi chỉ là sự thay đổi về số lượng, còn giá trị dường như không thay đổi và tăng trưởng GDP chỉ là tăng trưởng về bề nổi.
Bảng 1. GDP giá thực tế phân theo thành phần kinh tế
Đơn vị: %
| 2010 | 2011 | 2012 | 2013 | 2014 | 2015 |
Tổng số | 100 | 100 | 100 | 100 | 100 | 100 |
Kinh tế nhà nước | 29,34 | 29,01 | 29,39 | 29,01 | 28,73 | 28,69 |
Kinh tế ngoài nhà nước | 42,96 | 43,87 | 44,62 | 43,52 | 43,33 | 43,22 |
Kinh tế tập thể | 3,99 | 3,98 | 4,00 | 4,03 | 4,04 | 4,01 |
Kinh tế tư nhân | 6,90 | 7,34 | 7,97 | 7,78 | 7,79 | 7,88 |
Kinh tế cá thể | 32,07 | 32,55 | 32,65 | 31,71 | 31,50 | 31,33 |
Khu vực FDI | 15,15 | 15,66 | 16,04 | 17,36 | 17,89 | 18,07 |
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm | 12,55 | 11,46 | 9,95 | 10,11 | 10,05 | 10,02 |
Nguồn: TCTK
2.2. Bức tranh về giá trị gia tăng
Số liệu giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm của hai nhóm ngành nông nghiệp và công nghiệp cho thấy, tỷ lệ giá trị tăng thêm so với giá trị sản xuất đều sụt giảm trong giai đoạn 2007 - 2015. Đặc biệt trong nhóm ngành công nghiệp, tỷ lệ này giảm từ 34,7% (năm 2007) xuống còn 21,7% (năm 2015), cho thấy phần giá trị gia tăng3 của nhóm ngành này đóng góp vào nền kinh tế nhỏ đi khá nhiều so với giai đoạn trước và tình hình sản xuất công nghiệp của Việt Nam ngày càng mang nặng tính gia công, lắp ráp. Tỷ lệ này đối với nhóm ngành nông nghiệp cũng có xu hướng giảm từ 68% (năm 2007) xuống 63% (năm 2015). Cấu trúc ngành cho thấy hiệu quả của các ngành sản xuất vật chất ngày càng kém, mặc dù sản xuất, xuất khẩu nhiều nhưng phần giá trị Việt Nam nhận được ngày càng ít trong khi đất đai được sử dụng không hiệu quả, tài nguyên mất đi và môi trường bị ảnh hưởng tiêu cực. Hơn nữa, cấu trúc kinh tế này khi tham gia hội nhập càng sâu càng bộc lộ nhiều điểm yếu.
Tính toán từ mô hình cân bằng tổng thể trong các giai đoạn cho thấy xuất khẩu tuy làm tăng sản xuất (xấp xỉ 12%) nhưng lan tỏa đến giá trị gia tăng giảm (-13,3%) và quan trọng hơn là lan tỏa đến nhập khẩu tăng rất mạnh (52%). Điều này khẳng định xuất khẩu hiện nay cơ bản là sản phẩm thô, tài nguyên và sản phẩm gia công. Trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, nền kinh tế Việt Nam luôn trong tình trạng nhập siêu cao. Đỉnh điểm là năm 2008, tổng mức nhập siêu hàng hóa đạt trên 18 tỷ USD. Với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, vấn đề nhập siêu cũng không phải là xấu, nếu các hàng hóa nhập khẩu phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên trên thực tế, các loại hàng hóa nhập khẩu lại chủ yếu phục vụ cho khu vực FDI - khu vực mà hầu hết máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu… dùng cho sản xuất và xuất khẩu chủ yếu đều phải nhập khẩu. Những mặt hàng xuất khẩu như điện tử; máy tính và linh kiện; điện thoại và các loại linh kiện; hàng dệt may; giầy dép... mang nặng tính lắp ráp gia công, hàm lượng giá trị gia tăng thấp, hiệu quả cho nền kinh tế cũng không cao. Nhập siêu cao hay thấp thì GDP vẫn tăng trưởng khá trong hầu hết các năm. Năm 2014, xuất siêu hàng hóa khoảng 3 tỷ USD, tăng trưởng GDP đạt 5,98%. Năm 2015, nhập siêu hàng hóa khoảng 3,2 tỷ USD, GDP tăng trưởng cao hơn rất nhiều, xấp xỉ 6,7%.
Xuất khẩu của khu vực FDI chiếm 63% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa trong năm 2012, sau đó tăng lên xấp xỉ 67% trong năm 2015. Việc xuất siêu hay nhập siêu hoàn toàn do khu vực FDI mang lại. Chuỗi số liệu cho thấy suốt từ năm 2000 đến 2015, khu vực FDI luôn suất siêu và khu vực kinh tế trong nước luôn nhập siêu. Từ năm 2012 đến nay, khu vực FDI có xu hướng xuất siêu mạnh mẽ. Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh từ 57% (năm 2005) lên 67% (năm 2013), nhưng điều đáng ngạc nhiên là tỷ trọng đóng góp về giá trị gia tăng trong GDP của khu vực này lại không tăng lên đáng kể, từ 15,2% (năm 2005) lên 18,07% (năm 2015). Điều này phần nào cho thấy khu vực FDI đang dần lấn lướt hoàn toàn khu vực kinh tế trong nước nhưng hàm lượng giá trị gia tăng của khu vực FDI đóng góp vào nền kinh tế không tương xứng, sản xuất của khối doanh nghiệp trong nước đang gặp khó khăn.
Tính toán từ bảng I/O của Việt Nam qua các giai đoạn (Bảng 2) cho thấy, ở hầu hết các ngành xuất khẩu, tuy giá trị lớn nhưng không lan tỏa nhiều đến thu nhập. Xuất khẩu mặc dù lan tỏa mạnh tới sản xuất lại không lan tỏa nhiều tới giá trị gia tăng. Khi xem xét đến sự lan tỏa tới nhập khẩu, có thể thấy xuất khẩu là nhân tố kích thích nhập khẩu tăng mạnh, chỉ số này đã tăng từ 1 (năm 2000) lên 1,45 (năm 2011). Bên cạnh đó, tỷ lệ giá trị gia tăng của xuất khẩu trong tổng cầu cuối cùng trong nước giảm mạnh, từ 0,45 (năm 2000) xuống 0,27 (năm 2012). Điều này phần nào cho thấy, hàm lượng giá trị gia tăng trong xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua không những không được cải thiện mà còn giảm sút trầm trọng và xuất khẩu là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài.
Bảng 2. Lan tỏa tới sản xuất, giá trị gia tăng và nhập khẩu do tác động
từ các nhân tố của tổng cầu cuối cùng
| 2000 | 2007 | 2012 | ||||||
| C | I | E | C | I | E | C | I | E |
Lan tỏa tới sản xuất | 1,27 | 1,35 | 1,53 | 1,09 | 1,12 | 1,7 | 2,04 | 1,17 | 2,01 |
Phần trăm thay đổi |
|
|
| -14,10 | -17,10 | 11,70 | 86,90 | 4,50 | 18,27 |
Lan tỏa tới giá trị gia tăng | 0,6 | 0,43 | 0,69 | 0,48 | 0,41 | 0,59 | 0,64 | 0,54 | 0,54 |
Phần trăm thay đổi | -20,40 | -5,60 | -13,30 | 33,30 | 31,22 | -8,94 | |||
Lan tỏa tới nhập khẩu | 1,44 | 1,70 | 1 | 1,28 | 1,63 | 1,47 | 1,31 | 1,50 | 1,45 |
Phần trăm thay đổi |
| -12,10 | -3,90 | 52,00 | 2,27 | -8,13 | -1,29 | ||
Tỷ lệ giá trị gia tăng trong tổng cầu cuối cùng trong nước | 0,47 | 0,32 | 0,45 | 0,44 | 0,37 | 0,35 | 0,31 | 0,46 | 0,27 |
Ghi chú: C: Tiêu dùng cuối cùng; I: Tích lũy tài sản (đầu tư); E: Xuất khẩu
Nguồn: Tính toán của tác giả từ bảng cân đối liên ngành
2.3. Cấn trúc các nhân tố trong giá trị tăng thêm
Trong nghiên cứu này, bảng IO được gộp thành 17 ngành gồm: (1) Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, (2) Khai thác, (3) Công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp, (4) Dệt, may, da, (5) Gas và chế biến dầu khí, (6) Hóa chất, (7) Khoáng sản phi kim loại, (8) Sản phẩm kim loại, (9) Máy móc thiết bị, (10) Công nghiệp chế biến khác, (11) Xây dựng, (12) Sản xuất và phân phối điện, (13) Vận tải, kho bãi, thông tin, truyền thông, dịch vụ máy tính và phần mềm, (14) Thương mại, khách sạn nhà hàng, (15) Kinh doanh bất động sản và dịch vụ tư vấn, (16) Dịch vụ trung gian tài chính, (17) Dịch vụ khác.
Những ngành (2), (4), (7), (8), (9), (10) có hệ số co giãn về vốn thấp, điều này đồng nghĩa phải có một lượng vốn rất lớn mới có được giá trị gia tăng (theo giá cơ bản). Hầu hết nhóm ngành công nghiệp (khai thác và chế biến - chế tạo) không tạo ra nhiều giá trị gia tăng hoặc đòi hỏi một số lượng vốn rất lớn mới tạo ra giá trị gia tăng. Đáng chú ý, nhóm ngành xây dựng là ngành siêu lợi nhuận (giá bán cao hơn giá thành rất nhiều).
Đối với tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế hệ số co giãn của lao động khoảng 77% (năm 2007 hệ số này chỉ khoảng 62%) và hệ số co giãn của vốn giảm từ 38% xuống 23%, cho thấy nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thâm dụng lao động, ngày càng mang nặng tính gia công. Một điều cần cảnh báo khi tăng lương không tương ứng với tăng năng suất lao động thì nguồn lực của nền kinh tế ngày càng bị co hẹp, phải cần một lượng vốn rất lớn mới có thể tạo được tăng trưởng4.
Khi xét hệ số co dãn trong trường hợp quy mô giảm dần có nghĩa hệ số co dãn của lao động α = Thu nhập của người lao động/(Giá trị gia tăng - Khấu hao tài sản cố định) và hệ số co dãn của vốn β = Thặng dư sản xuất/(Giá trị gia tăng - Khấu hao tài sản cố định), lúc đó α + β < 1 phần chênh lệch là thuế gián thu. Như vậy, khoan sức dân là một trong những chính sách cần được chú trọng.
Tính toán từ mô hình cân đối liên ngành cũng cho thấy lan tỏa từ các nhân tố của cầu đến thặng dư sản xuất ngày càng nhỏ đi, đặc biệt là đầu tư và xuất khẩu. Điều này cho thấy doanh nghiệp ngày càng khó khăn, không nên tiếp tục can thiệp vào cầu cuối cùng.
Bảng 3. Lan tỏa từ các nhân tố của cầu cuối cùng đến nhân tố của giá trị gia tăng
C | I | E | |
Thu nhập từ sản xuất |
|
|
|
2012 | 0,34 | 0,36 | 0,33 |
2007 | 0,45 | 0,35 | 0,26 |
Thặng dư sản xuất |
|
|
|
2012 | 0,13 | 0,08 | 0,11 |
2007 | 0,14 | 0,1 | 0,19 |
Ghi chú: C: Tiêu dùng cuối cùng; I: Tích lũy tài sản (đầu tư); E: Xuất khẩu
Nguồn: Tổng cục Thống kê
2.4. Sự thay đổi trong cấu trúc liên ngành của Việt Nam
Kết hợp độ nhạy và độ lan tỏa của một ngành cho thấy mức độ quan trọng tương đối của một sản phẩm (ngành) trong nền kinh tế (Guo and Planting, 2000; Ramos, Estrada, Felipe, ADB, 2010). Sự kết hợp này được định nghĩa là “ma trận sản phẩm nhân tử” trong hệ thống của Leontief. Ma trận sản phẩm nhân tử ở đây được xem như bức tranh của nền kinh tế. Về tổng quát bức tranh cấu trúc liên ngành của giai đoạn 2007 - 2012 và giai đoạn 2012 - 2017 không có sự thay đổi về hình thái, nhưng mức độ lan tỏa giảm sút rõ, từ 2 bảng I/O có thể thấy những ngành có chỉ số lan tỏa và độ nhạy tốt nhất vẫn là nhóm ngành nông nghiệp và chế biến sản phẩm nông nghiệp. Đối với nhóm ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, chỉ số này đã giảm từ 1,201 (năm 2012) xuống còn 1,018 (năm 2017). Tương tự, nhóm ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp có chỉ số giảm từ 1,6 xuống 1,3. Sự gắn kết yếu đi một phần là do nền kinh tế gia công toàn diện hơn.
Bảng 4. Kết hợp độ nhậy và lan tỏa từ 2 bảng I/O
TT | Ngành | Độ nhậy và độ lan tỏa hỗn hợp | |||
2007 | 2012 | ||||
1 | Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản | 1,201 | 1,018 | ||
2 | Khai thác | 0,779 | 0,844 | ||
3 | Công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp | 1,598 | 1,314 | ||
4 | Dệt, may, da | 1,098 | 1,021 | ||
5 | Gas và chế biến đầu khí | 0,809 | 1,066 | ||
6 | Hóa chất | 1,054 | 0,966 | ||
7 | Khoáng sản phi kim loại | 0,953 | 0,990 | ||
8 | Sản phẩm kim loại | 0,951 | 0,919 | ||
9 | Máy móc, thiết bị | 1,026 | 1,014 | ||
10 | Công nghiệp chế biến khác | 1,060 | 1,088 | ||
11 | Xây dựng | 0,913 | 1,083 | ||
12 | Sản xuất và phân phối điện | 1,061 | 1,000 | ||
13 | Vận tải, kho bãi, thông tin, truyền thông, dịch vụ máy tính và phần mềm | 0,894 | 0,940 | ||
14 | Thương mại, khách sạn nhà hàng | 0,900 | 0,990 | ||
15 | Kinh doanh bất động sản và dịch vụ tư vấn | 0,848 | 0,886 | ||
16 | Dịch vụ trung gian tài chính | 0,948 | 0,928 | ||
17 | Dịch vụ khác | 0,908 | 0,933 | ||
Nguồn: Tổng cục Thống kê
2.5. Cấu trúc về quá trình phân phối lại
Đối với Việt Nam, các chỉ tiêu tăng trưởng GDP và thu hút FDI vẫn luôn là một thước đo để đánh giá thành tích và “sức khỏe” của nền kinh tế. Song chúng ta nên nhìn nhận lại việc định hướng phát triển cho nền kinh tế về dài hạn, không chỉ lấy tăng trưởng GDP làm chuẩn mực để phấn đấu. Tăng trưởng GDP có thể cao, nhưng kết quả thực chất một quốc gia có được chính là chỉ tiêu tổng thu nhập quốc gia (GNI), thu nhập quốc gia khả dụng (NDI) và tiết kiệm.
Chênh lêch giữa GNI và GDP của Việt Nam ngày càng có xu hướng tăng, năm 2000 chênh lệch này chỉ khoảng 1,4% thì đến năm 2014 đã xấp xỉ 5%. Nếu quy ra USD, thu nhập sở hữu thuần ra nước ngoài đã tăng từ khoảng 0,45 tỷ USD (năm 2000) lên khoảng 9,7 tỷ USD (năm 2015). Lượng tiền mất đi này một phần là từ khu vực FDI (chi trả sở hữu thuần). Sở dĩ tỷ lệ tiết kiệm trong GDP không sụt giảm nhiều là do lượng kiều hối hằng năm khoảng 10 tỷ USD.
Bảng 5. GDP và tổng thu nhập quốc gia
Năm | GDP (Tỷ đồng) | GNI | Thu nhập thuần tuý từ nước ngoài (Tỷ đồng) | GNI/GDP (%) |
2000 | 441.646 | 435.319 | -6.327 | 98,60 |
2001 | 481.295 | 474.855 | -6.440 | 98,70 |
2002 | 535.762 | 527.056 | -8.706 | 98,40 |
2003 | 613.443 | 603.688 | -9.755 | 98,40 |
2004 | 779.338 | 701.906 | -77.432 | 90,10 |
2005 | 914.001 | 822.432 | -91.569 | 90,00 |
2006 | 1.061.565 | 953.232 | -108.333 | 89,80 |
2007 | 1.246.769 | 1.108.752 | -138.017 | 88,90 |
2008 | 1.616.047 | 1.567.964 | -48.083 | 97,00 |
2009 | 1.809.149 | 1.731.221 | -77.928 | 95,70 |
2010 | 2.157.828 | 2.075.578 | -82.250 | 96,20 |
2011 | 2.779.880 | 2.660.076 | -119.804 | 95,70 |
2012 | 3.245.419 | 3.102.553 | -142.866 | 95,60 |
2013 | 3.584.262 | 3.430.668 | -153.594 | 95,6 |
2014 | 3.937.856 | 3.750.823 | -187.033 | 95,3 |
2015 | 4.192.862 | 3.977.609 | -215.253 | 94,3 |
Nguồn: Ngân hàng Phát triển châu Á và Tổng cục Thống kê
Nguồn lực cơ bản của một đất nước là khả năng tích lũy của nền kinh tế - nguồn lực cơ bản để đầu tư. So sánh tỷ lệ và đầu tư - tiết kiệm của Trung Quốc và Việt Nam cho thấy, khoảng cách giữa tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm của Trung Quốc rất lớn (đầu tư vượt quá nguồn lực). Trong nhiều năm, tỷ lệ đầu tư của Trung Quốc chiếm khoảng 45% GDP trong khi tỷ lệ tiêu dùng cuối cùng trong nhiều năm qua của Trung Quốc chỉ khoảng 50%. Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP, Trung Quốc đã đầu tư quá mức. Khi đầu tư vượt quá nguồn lực sẽ dẫn đến vay mượn. Tình hình này ở Việt Nam tương đối khác, tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm của Việt Nam gần tương đương nhau nhưng việc vay mượn lại ngày càng tăng. Điều này cho thấy tiết kiệm của Việt Nam nhiều phần vẫn mang tính tiền tệ. Một thực tế đáng chú ý là gần đây các địa phương huy động nguồn lực của dân và doanh nghiệp với một khái niệm mập mờ được gọi là nguồn vốn xã hội hóa nhằm xây dựng những công trình như đài tưởng niệm, cổng trào và các công trình khác không lan tỏa đến sản xuất nhưng lại hao tổn nguồn lực của nền kinh tế.
Hình 1. Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư trên GDP của Trung Quốc
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Cục Thống kê Trung Quốc | Hình 2. Tỷ lệ để tiết kiệm và đầu tư trên GDP của Việt Nam
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam |
Số liệu từ bảng I/O do Tổng cục Thống kê công bố cho thấy, thu nhập từ sản xuất trong giá trị tăng thêm chỉ bằng 94% tiêu dùng cuối cùng. Về nguyên tắc, thu nhập từ sản xuất bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn (34% tổng quỹ lương thực lĩnh). Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp đã được người lao động và người về hưu sử dụng (tiêu dùng), nếu loại trừ kinh phí công đoàn thì thu nhập từ sản xuất chỉ còn 92% tiêu dùng cuối cùng. Như vậy để có thể tiêu dùng một phần, để dành một phần, người dân cần một lượng thu nhập từ ngoài sản xuất, sở hữu và chuyển nhượng từ các khu vực thể chế khác để bù đắp cho khoảng thiếu hụt đó. Về tổng thể, đa số người lao động Việt Nam làm còn chưa đủ chi tiêu dùng cuối cùng, để dành của khu vực hộ gia đình cơ bản đến từ chuyển nhượng từ các khu vực thể chế khác (kiều hối là một phần trong đó). Cơ hội có được thu nhập từ ngoài sản xuất của hầu hết người lao động là không nhiều, chênh lệch thu nhập bình quân đầu người/tháng của nhóm thu nhập cao so với nhóm thu nhập thấp năm 2010 là 9,2 lần, năm 2012 là 9,4 lần và 2014 là 9,7 lần. Như vậy nếu không tăng lương, đa số người lao động sẽ rất khó khăn, trong khi tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập, việc giảm sút tiêu dùng có thể dẫn đến sự giảm sút về tăng trưởng GDP. Như vậy, phần để tích lũy cơ bản từ chuyển nhượng (kiều hối là một phần trong đó) và đi vay.
Trong nhiều năm, hầu hết các chính sách của Việt Nam đều hướng tới quản lý cầu. Về bản chất, tăng trưởng về cầu (GDP) chỉ mang tính chất nhất thời và ngắn hạn. Việc quản lý tổng cầu cuối cùng trong thời gian dài mà không cải thiện năng suất và hiệu quả sản xuất dẫn đến những hệ lụy vĩ mô như nợ nần, bội chi, thâm hụt thương mại… Điều này cũng dẫn đến những vấn đề trong hầu hết các cấu trúc kinh tế của Việt Nam, từ phân phối lần đầu đến phân phối lại.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Nguyễn Quang Thái, Bùi Trinh (2017), Phân tích GDP và sự phát triển bền vững về môi trường, Tạp chí Kinh tế tài chính Việt Nam, Số 2/2017.
Tiếng Anh
2. Asian Development Bank (2015), Financial Soundness Indicators for Financial Sector Stability in Vietnam, Manila.
3. Bui Trinh, Kiyoshi Kobayashi, Trung-Dien Vu, Pham Le Hoa (2012), New Economic Structure for Vietnam toward Sustainable Economic Growth in 2020, Global Journal of Human Social Science, Vol. 12 Issue 10.
4. Bui, T. and Pham, L. H. (2014), Some Findings of Vietnam’s Economic Situation in the Relationship with China, American Journal of Economics, 4(5): 213-17.
5. Diezenbacher. E. (1997), In Vindication of Ghosh Model: A Reinterpretation as a Price Model, Journal of regional science”, Vol 37, pp. 629-651. https://doi.org/10.1111/0022-4146.00073.
6. Domar, Evsey (1946), Capital Expansion, Rate of Growth, and Employment, Economitrica, 14 (2): 137-147, https://doi.org/10.2307/1905364.
7. Ghosh A. (1958), Input-Output Approach in an Allocation System, Economica 18, pp. 58-64. https://doi.org/10.2307/2550694.
8. Guo, D. and Hewings, G. J. D. (2001), Comparative Analysis of China’s Economic Structures Between 1987 and 1997: An Input-Output Prospective, Discussion Paper at Regional Economics Applications Laboratory, Urbana.
9. Miller, R. E. and Blair, P. D. (1985), Input-Output Analysis Foundation and Extension, Prentice-Hall, Inc.: New Jersey.
10. Ministry of Natural Resources and Environment (2014), The Initial Biennial Updated Report of Vietnam to the United Nations Framework Convention on Climate Change, Vietnam Publishing House of Natural Resources, Environment and Cartography.
11. Miyazawa. K (1966), Internal and External Multipliers in the Input-Output Model, Hitotshubashi Journal of Economics, 7, pp. 38- 55; Miyazawa. K (1976), Input - Output Analysis and the Structure of Income Distribution, Heideberg, Springer - Veriag.
12. Sonis, M. and Hewings, G. J. D (1999), Economic Landscapes: Multiplier Product Matrix Analysis for Multiregional Input-Output Systems, Hitotsubashi Journal of Economics, 40(1): 59-74.
13. T. Tran at all. (2016), Finding Economic Structure and Capital Structure for a “Green Economy”, Serials Publications.
14. To TrungThanh, Nguyen, V. P. and Bui, T. (2016), Some Comparisons between the Vietnam and China’s Economic Structure, Policy Implications, Advances in Management & Applied Economics, 6(3): 153-66.
15. Vietnam GSO (2015), Vietnam Input-Output Table, 2012, Statistics Publishing House.
16. Wassily, L. (1941), Structure of the American Economy, 1919-1929, Harvard University Press: Cambridge Mass. Zhu, L. (2015); China’s Emission Report 2015, Harvard Kennedy School - Belfer Center for Science and International Affairs.
1 Hiệp hội Nghiên cứu kinh tế môi trường và kinh tế lượng Nhật Bản (AREES).
2 Đại học Kyoto, Nhật Bản.
3 GDP = Tổng giá trị gia tăng của các ngành theo giá cơ bản + Thuế sản phẩm - Trợ giá sản phẩm.
4 Trong trường hợp này α = thu nhập của người lao động/(Giá trị gia tăng theo giá cơ bản - Khấu hao tài sản cố định) và β = 1- α.
Nguồn Bài Viết:
https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/ncvtd/ncvtd_chitiet;jsessionid=O7SlnveUGnqT7s8iteTT1fKEiolXW6BeDIPflIqWT59KmSGn8aNd!-285204355!1125496408?dDocName=MOFUCM117176&dID=122394&_afrLoop=5278086637978303#%40%3FdID%3D122394%26_afrLoop%3D5278086637978303%26dDocName%3DMOFUCM117176%26_adf.ctrl-state%3D1bvrw1twsw_4
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TÀI CHÍNH
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
Trang chủ : https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/r/f/bhome
Số 7 Phan Huy Chú - Hoàn Kiếm - Hà Nội, Tel: (84-4) 2220 4022, Email: support@mof.


COMMENTS